CM Sức khỏe

Chiết xuất lá bạch quả có tác dụng gì cho sức khỏe ?

Lá bạch quả

Chiết xuất lá bạch quả có tác dụng gì với sức khỏe |

Bạch quả (tiếng Anh là Ginkgo biloba) là loài cây thân gỗ duy nhất còn sinh tồn trong chi Ginkgo thuộc họ Ginkgoaceae. Từ kỷ băng hà hầu hết các loài thực vật thuộc họ này đã bị tuyệt chủng.

Bạch quả là loài cây cổ thụ có tuổi thọ rất lớn, lên đến hàng ngàn năm tuổi. Nó là cây thân gỗ lớn, cao khoảng 20~30 m. Lá có dạng hình quạt với các gân lá tỏa ra thành phiến lá. Các lá thông thường dài 5~10 cm, nhưng đôi khi tới 15 cm.

Lá bạch quả được chiết xuất lấy những thành phần hữu dụng để dùng cho dược phẩm hay thực phẩm chức năng với công dụng tốt cho não bộ.

◇  ◇  ◇

Các thành phần được chiết xuất từ lá bạch quả

Các chất hữu dụng chiết ra từ lá bạch quả gồm các Flavonoid, Terpenoid (Ginkgolide A, Ginkgolide B, Ginkgolide C, Bilobalide) và Proanthocyanidin. Mặt khác, trong lá bạch quả cũng có chứa lượng nhỏ Axit Ginkgolic là thành phần gây viêm da tiếp xúc hay dị ứng. Axit này chủ yếu chứa trong lớp vỏ ngoài của hạt bạch quả. Do tính nguy hại của Axit Ginkgolic nên việc loại bỏ axit này trong hỗn hợp được chiết xuất ra từ lá bạch quả là cần thiết.

Để có thể sử dụng một cách an toàn chiết xuất này trong thực phẩm chức năng thì, cần phải đảm bảo theo qui chuẩn của các thành phần có lợi và thành phần có hại. Qui chuẩn thông dụng cho các sản phẩm có chứa chiết xuất lá bạch quả đang được sử dụng là “chiết xuất có chứa Flavonoid từ 24% trở lên, Terpenoid từ 6% trở lên, và hàm lượng Axit Ginkgolic từ 5 ppm trở xuống”.

Những quảng cáo thực phẩm chức năng có chiết xuất này đại loại như là “Ở phương Tây chiết xuất lá bạch quả được dùng làm các loại thuốc” hay “Đã có thí nghiệm lâm sàng trên con người cho thấy có hiệu nghiệm” đều với mục đích đánh vào tâm lý người tiêu dùng, làm cho họ yên tâm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các sản phẩm từ chiết xuất này ở châu Âu có 2 cấp chất lượng là “Cấp dược phẩm (thuốc)” và “Cấp thực phẩm chức năng”. Các sản phẩm đã được tiến hành thí nghiệm lâm sàng trên người có chất lượng thuộc cấp dược phẩm.

Chiết xuất lá bạch quả được sử dụng ở châu Âu và ở Nhật Bản có cách chế biến hơi khác nhau. Các chế phẩm chiết xuất ra từ lá bạch quả ở châu Âu thì sử dụng acetone và nước, còn ở Nhật lại dùng ethanol và nước. Lý do vì ở Nhật không cho dùng acetone đối với vệ sinh an toàn thực phẩm. Với 2 cách chiết xuất này thì những thành phần ngoài Flavonoid và Terpenoid có giống nhau hay không vẫn là vấn đề chưa được làm rõ.

Tác dụng của chiết xuất lá bạch quả

Các thành phần được chiết xuất ra từ lá bạch quả đã được báo cáo có những tác dụng sinh lý như dưới đây.

  • Tác dụng chống oxy hóa: Các oxy hoạt tính có liên quan đến chất béo đã bị oxy hóa khử, kết tập tiểu cầu, phản ứng viêm dẫn đến tổn thương tế bào thần kinh và các cơ quan cơ thể, nên nó là nguyên nhân gây ra lão hóa hay các loại bệnh do lối sống. Thành phần chính trong chiết xuất lá bạch quả Flavonoid đã được công nhận là có tác dụng tiêu diệt các oxy hoạt tính và các gốc tự do, ngăn chặn sự kết tập của tiểu cầu, ức chế sự sản sinh oxy hóa hoạt tính từ các tế bào bị viêm.
  • Tác dụng ức chế đông máu: Nhân tố hoạt hóa tiểu cầu (platelet-activating factor, PAF) là một dạng chất béo trung gian được sinh ra bởi màng tế bào khi có tổn thương xảy ra trong cơ thể, nó là nguyên nhân làm khởi phát sự kết tập tiểu cầu gây hình thành các khối huyết trắng, sự giải phóng ra chất gây dị ứng, sự sản sinh oxy hoạt tính. Từ đó dẫn đến hình thành huyết khối, phát dị ứng, viêm, co thắt phế quản, rối loạn hệ thống tuần hoàn não. Ginkgolide B được chiết lấy từ lá bạch quả là chất cản trở các PAF đặc thù này, giúp ngăn ngừa nhồi máu não và xơ vữa động mạch.
  • Các tác dụng khác: Một số nghiên cứu đã cho thấy chiết xuất lá bạch quả còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu, tác dụng kìm hãm tăng huyết áp, tác dụng ức chế tăng đường huyết.

Tại châu Âu đã có nhiều báo cáo thí nghiệm lâm sàng trên con người đối với chiết xuất từ lá bạch quả cho thấy tính hữu hiệu của nó. Các báo cáo này là kết quả của các thí nghiệm sử dụng sản phẩm chiết xuất từ lá bạch quả có tên là EGb761 (Extractum Ginkgo bilobae 761).

Chiết xuất lá bạch quả tốt cho trí não

Những thành phần chiết xuất từ lá bạch quả được cho là tốt cho trí não | Image via tcmart.jp

  • Cải thiện sa sút trí tuệ: Sa sút trí tuệ chia làm 2 dạng lớn là dạng Alzheimer và dạng mạch máu não, trong đó đặc biệt là dạng Alzheimer vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân nên gặp khó khăn để chữa trị. EGb761 đã được báo cáo ở nhiều thí nghiệm lâm sàng cho thấy giúp cải thiện triệu chứng sa sút trí tuệ ở cả 2 dạng Alzheimer và dạng mạch máu não.
  • Cải thiện trí nhớ: Chiết xuất này còn được kỳ vọng vào tác dụng cải thiện sự giảm trí nhớ và suy giảm khả năng chú ý. Mặt khác, trong thí nghiệm đối với người khỏe mạnh thì các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sóng não α được tăng lên, giúp gia tăng trí nhớ.
  • Cải thiện rối loạn chức năng não gây ù tai: EGb761 đã được công nhận có hiệu quả trong việc cải thiện chứng ù tai do sự gia tăng lưu thông máu khi gặp rối loạn tuần hoàn não hay khi mạch máu bị tổn thương.
  • Cải thiện rối loạn tuần hoàn máu: Ở châu Âu EGb761 được dùng trong điều trị bệnh chân đau cách hồi. Bệnh chân đau cách hồi là tình trạng bị đau từng cơn tương tự như chuột rút ở một hoặc cả hai chân khi đang đi, nhất là ở các bắp chân do gặp phải rối loạn tuần hoàn máu làm cho máu không lưu thông đến các cơ ở chân.

Một số tác dụng phụ của nó

Một số tác dụng phụ khi bổ sung những thành phần chiết xuất từ lá bạch quả đã được ghi nhận như gây tổn hại đường ruột, dạ dày mức độ nhẹ, đau đầu, viêm da dị ứng, nhưng khá hiếm gặp. Ngoài ra, cũng có báo cáo cho biết một số trường hợp gặp sốc phản vệ do bởi tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch.

Liều lượng bổ sung chiết xuất này được khuyến cáo là 120~240 mg/ngày. Nếu lạm dụng bổ sung vượt mức 240 mg/ngày thì có thể xảy ra một số tác dụng phụ như trên. Do đó, đặc biệt khi sử dụng thực phẩm chức năng để bổ sung nó cho cơ thể thì hãy tuân thủ liều lượng uống theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Các thành phần chiết xuất từ lá bạch quả có thể gây tác động xấu với những người sử dụng các thuốc chống đông máu như aspirin và warfarin. Đồng thời các thành phần này cũng được báo cáo là có tác dụng qua lại, gây ảnh hưởng đến một số loại thuốc liên quan đến insulin (bệnh tiểu đường), hay thuốc chống trầm cảm.

Biên soạn: Pinotame | Ban biên tập TCHN

Nguồn tham khảo:

1. Viện nghiên cứu Y học cơ sở – Dinh dưỡng – Sức khỏe Quốc gia Nhật Bản
https://www.nibiohn.go.jp/eiken/hn/modules/pico/index.phpcontent_id=306&page=print.html

2. Wikipedia Nhật Bản về bạch quả
https://ja.wikipedia.org/wiki/イチョウ

3. Wikipedia Việt Nam về bạch quả
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bạch_quả

ĐĂNG KÝ ĐỂ KHÔNG BỎ LỠ

BẤT KỲ THÔNG TIN NÀO TỪ TRA CỨU HÀNG NHẬT
Thông tin cập nhật mới nhất về Sản phẩm Nội địa Nhật & Bài viết sẽ được gửi về Email cho bạn.

ĐĂNG KÝ ĐƠN GIẢN NHANH CHÓNG
Nhập địa chỉ Email của bạn rồi nhấn nút “Đăng ký”, bạn sẽ nhận được mail xác nhận từ TCHN và nhấn nút “Xác nhận” trong mail là XONG ! 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *